Tin mới Xem thêm

  • Nguyễn Ngọc Hạnh đâu rồi giấc mơ cỏ xanh

    Đấy là bầu trời không còn bình yên/ khi gót chân em giẫm lên chiếc bóng hạnh phúc nhỏ nhoi dưới chân mình/ đâu rồi giấc mơ cỏ xanh

  • “Thay áo” của Trịnh Công Lộc

    Có thể nói, “Thay áo” là một bài thơ viết như không, với câu chữ giản dị mà chân thành, sâu sắc. Mặt khác, những câu thơ ấy cũng chính là những câu thơ gan ruột của Trịnh Công Lộc.

  • Cử nhân thất nghiệp: quá lãng phí nguồn lực

    Thông tin từ Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội mới đây cho biết, hiện có khoảng 200.000 người thất nghiệp

  • Tôn Nữ Thu Thủy dạy con sống nghĩa tình

    Con trẻ luôn nhìn vào tấm gương của cha mẹ mà làm theo. Mình sống đàng hoàng, tử tế thì các con cũng học được cách phân định những điều đúng sai

  • Hữu Việt đón kiếm vào lòng và mở lá ra

    Tôi gặp/ một con bò kiên nhẫn đứng nhai mưa/ Nó không đứng chơi, trên vai ách nặng/ Mắt rợp buồn chiều đông

  • Khi nhà báo... viết sách

    Là một nghề gắn với viết lách, chữ nghĩa nên không có gì lạ khi nhiều nhà báo viết sách. Nhưng bản chất nghề báo là công việc liên quan đến thông tin nên sách của nhà báo ngoài sự đa dạng còn có một đặc thù riêng là luôn gắn với dòng chảy của thời sự, nhất là dòng thời sự liên quan đến chuyên môn của từng người.

Chân dung Xem thêm

  • Tôn Nữ Thu Thủy dạy con sống nghĩa tình

    Con trẻ luôn nhìn vào tấm gương của cha mẹ mà làm theo. Mình sống đàng hoàng, tử tế thì các con cũng học được cách phân định những điều đúng sai

  • Trần Tuấn viết trong bóng tối…

    Nhà báo, nhà thơ Trần Tuấn (báo Tiền Phong) gắn bó trang viết của mình với mảnh đất Đà Nẵng, mảnh đất của những sự kiện lịch sử, những sự kiện

  • Cao Linh Quân người lữ hành lặng lẽ

    Trong số các nhà văn từng sống và viết ở Nha Trang, Khánh Hòa, thì Cao Linh Quân là một gương mặt khá đặc biệt, nếu như không muốn nói là lạ lẫm

  • Hoàng Việt Hằng hẹn gì với những đam mê?

    Nhà thơ Hoàng Việt Hằng đã thử sức qua nhiều thể loại. Chị viết cả truyện ngắn, tản văn và tiểu thuyết. Thế nhưng, trong những trang bản thảo

Thế giới sách Xem thêm

Thế giới sách

Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’ của Trần Xuân An

25.12.2012-16:20

 

 

LIỆU ĐÃ THỂ HIỆN HẾT NỖI NIỀM

 VÀ NGHỊ LỰC SỐNG SUỐI HƯƠNG?

 

TRẦN XUÂN AN

 

NVTPHCM- Suối Hương (Hương Lâm) ở bậc thềm Nam Tây nguyên, phía tây nam Đạ Bảo (B’Lao), chắc hẳn là một trong những vùng đất khiến tôi thường nhớ về với một tâm trạng khôn nguôi, và không thể không bận lòng suy nghĩ. Tôi viết về Suối Hương trong những ngày tháng còn dạy học ở Bảo Nghĩa (Lộc Ngãi), một vùng khai hoang lập ấp của người dân Quảng Ngãi, phía tây bắc Đạ Bảo. Bấy giờ, tôi chưa vào đến Suối Hương, mà chỉ có dịp dừng chân ở Mađagui, nơi có một con đường duy nhất vào vùng đất khai hoang lập ấp của người Huế ấy. Tôi lại viết về Suối Hương khi đã thật sự trải qua một niên khoá dạy học ở đó, 1979-1980. Và khi đã rời xa Suối Hương, lên Đạ Nông (Đức Trọng) tiếp tục dạy học gần trọn ba năm học, Suối Hương trong tâm hồn tôi vẫn buộc tôi phải nhiều lần cầm lấy bút và viết. Thậm chí, khoảng mười lăm năm sau, Suối Hương trở thành một thôi thúc nội tâm, không thể không viết để giải toả. Thế rồi, tưởng chừng đã nguôi quên, nhưng tôi lại một lần nữa viết về Suối Hương thuở đó, cách đây bốn tháng, 9-2012. Lần này, không phải là thơ hay bút kí, mà là truyện vừa: “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’”.

Mỗi vùng đất ta đã sống, hay chỉ dừng chân vài hôm, đều trở thành kỉ niệm. Nhưng Suối Hương đối với tôi còn hơn là kỉ niệm. Đó là nơi tôi đã đồng cảm với người Huế rời xa Huế để đi “kinh tế mới”, nặng lòng nhớ Huế đến đau đáu ruột gan, mặc dù tôi là người Quảng Trị được sinh ra trong ngôi nhà của cha mẹ mình gầy dựng được ở Huế, có ít năm ấu thơ, một năm trung học và bốn niên khoá đại học ở Huế, tất thảy các quãng thời gian ấy đều sống trong ngôi nhà đó. Huế là quê hương sinh quán của tôi, là nơi, một cách biện chứng, góp phần hình thành nên tôi, và Suối Hương là Huế của tôi ở Lâm Đồng. Đó là một khía cạnh của nỗi niềm Suối Hương của riêng tâm hồn tôi... Mặt khác, Suối Hương còn là nơi tôi đồng cảm với Huế trong tâm trạng hậu chiến nhưng thực sự vẫn còn chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, thuở những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80/XX, vô vàn trăn trở, thử thách, cơ khổ, vô vàn hi vọng, luôn nhủ lòng tự trấn an bằng tầm nhìn lạc quan, bằng nghị lực vượt thắng...

Cuốn sách “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’” là một truyện vừa (gồm năm truyện ngắn liên hoàn) mới viết, cùng phụ lục là chín bài thơ, viết trong các năm từ 1979 đến 1996, gói gọn trong 128 trang sách, vừa mới phát hành (1), liệu có thể hiện được các khía cạnh, mặt này, măt kia của hiện thực thuở đó và nỗi niềm Suối Hương trong tôi hay không? Tôi tự hỏi và tự biết là không thể trả lời trong vài dòng ngắn gọn, ở bài viết này. Tôi còn hiểu rằng, bao người đọc quý mến, gồm cả những giáo viên đồng nghiệp, các vị cán bộ, thanh niên xung kích Huế và nhân dân Suối Hương thuở đó, phần lớn vẫn còn sống, không những vẫn khoẻ mạnh mà còn rất tinh tường, chắc hẳn chưa phai mờ kí ức, có thể đọc cuốn sách này, trả lời hộ tôi. Và cuốn sách “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’” tự nó cũng lên tiếng trả lời.

Điều tôi cảm thấy thật sự vui mừng là biết mình vẫn còn có thể đeo đuổi được một trong những mảng đề tài luôn canh cánh trong tôi, đó là về những thân phận bị thiệt thòi khi đất nước được thống nhất và cơ bản là hoà bình (còn chiến tranh ở biên giới) – những thân phận mà chính cố thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thấu hiểu, và viết sự thật đó thành một câu hầu hết mọi người trong nước, ngoài nước đều nhớ, đại để: Nếu có triệu người vui thì cũng có triệu người vẫn còn buồn. Tôi hiểu, vẫn có triệu người còn buồn là bởi họ không được san sẻ Niềm Vui Lớn của Đất nước thống nhất. Trước hết, đó là quyền bình đẳng, không bị “phân biệt đối xử” trên mọi phương diện (“phân biệt đối xử”, một cụm từ thể hiện một sự thật mà chính các văn kiện quan trọng của Đảng cầm quyền đã ghi nhận từ thực tế cuộc sống và đã chỉ thị chấm dứt sự “phân biệt đối xử” đó) (2). Mảng đề tài này còn chất chứa trong nó những vấn đề khác thuộc về chính luận, như kinh tế (3), văn hoá... Thơ trữ tình chính luận, truyện văn chương chính luận, hay chính xác hơn là mang màu sắc chính luận, thực chất cũng là phản ánh hiện thực, thể hiện nỗi niềm, tâm trạng về số phận nhân dân, số phận con người trong những quãng thời gian – những thời đoạn đã, đang và sẽ thành lịch sử, khắc sâu vào sử kí dân tộc... Suối Hương là một vùng “kinh tế mới”, mới hình thành từ tháng 12-1977 đến nay, và chỉ dăm nghìn dân, nhưng đâu nằm ngoài pho sử lớn của Đất nước Việt Nam vạn nghìn đời. Như đối với các tác phẩm văn chương vừa có tính kí sự vừa có tính hư cấu tương tự khác, nếu chắt lọc “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’”, có thể nhặt lấy cái lõi hiện thực cho địa chí, sử kí, đặc biệt là “không khí” nói chung của một vùng đất, chứ không riêng một mái nhà nào, nhân vật nào, thuở mới khẩn hoang, khai canh, lập làng, dựng trường (1977-1980). Mái nhà này, nhân vật kia, có thể là sản phẩm hư cấu, nhưng “không khí” chung của truyện là rất chân thật, chân thật như tôi đã đi đến tận cùng hiểu biết về vùng đất ấy.

Tôi đã run tay khi viết truyện vừa “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’”, mặc dù đây chỉ là tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết, với đặc trưng thể loại của nó, gồm cả cái lõi hiện thực cộng với tỉ lệ hư cấu nhất định. Và bây giờ, cảm thấy yên tâm khi cuốn sách đã được lưu hành. Băn khoăn còn lại là, thông qua việc khắc hoạ các nhân vật cùng với việc xây dựng tổng thể hình tượng tác phẩm, liệu tôi đã thể hiện hết nỗi niềm và nghị lực sống Suối Hương, chất Huế ở Huế và ở Lâm Đồng? Dẫu sao, cuốn sách “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’” là cả tấm lòng thành của tôi khi hồi ức về Suối Hương.

 

____________________________

 (1) “Bên kia Dốc ‘Mạ ơi!’” được cấp phép bởi Nxb. Hội Nhà văn (chi nhánh phía nam đọc duyệt); phát hành tại nhà sách Nhà xuất bản Thanh Niên, 27B Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa Kao, Q.1, TP.HCM. và nhà sách Nhà xuất bản Trẻ, 161 Lý Chính Thắng, Q.3, TP.HCM..

(2) Chỉ thị của Ban Bí thư, số 66 – CT./TW., ngày 26-02-1979: “Về một số công tác trước mắt đối với trí thức cũ ở Miền Nam”, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 40 (1979), Nxb. Chính trị quốc gia, 2005.

(3) Đề cương kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá IV), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IV), số 20 – NQ./TW., ngày 20-9-1979, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 40 (1979), Nxb. Chính trị quốc gia, 2005; Thông báo số 22 – TB./TW., ngày 21-10-1980, bộ sđd., tập 41 (1980), 2005.

 

 

 

 

@ XEM TIP TH GII SÁCH…

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.