Tin mới Xem thêm

  • Bài học của Bác vẫn nguyên giá trị

    Với gần 200 tài liệu, hiện vật, phim, ảnh, thư từ, bút tích của Bác được trưng bày tại triển lãm

  • Ca sĩ Mỹ gốc Việt khát khao tìm mẹ

    Từ một cậu bé mồ côi phải sống trong cô nhi viện, rồi trở thành ca sĩ nổi tiếng tại Mỹ, đứng trên sân khấu với những tên tuổi hải ngoại

  • Người Việt đọc bao nhiêu sách mỗi năm?

    Chưa có câu trả lời chính xác cho câu hỏi đó, bởi các thống kê về lượng sách tiêu thụ hằng năm không tính đến sách lậu bán vỉa hè và số lượt e-book lậu được tải về từ mạng.

  • Thuyền và bến - nhẹ nhàng và lắng đọng

    Mặc dù ra mắt tập thơ đầu tay ở tuổi ngoại ngũ tuần, nhưng hầu hết các bài thơ trong tập thơ Thuyền và Bến

  • Kết quả cuộc thi thơ Bút Mới lần 9

    Cuộc thi thơ Bút Mới lần 9 dành cho thể thơ tự do với chủ đề “Trái đất xanh” tổ chức trên tuyển tập Áo Trắng vừa công bố kết quả

  • Lê Văn Thảo“kể chuyện nghe chơi”

    Danh hiệu nào cũng đem lại niềm vui, huống chi danh hiệu mang tên Hồ Chí Minh. Nhưng vinh dự lớn, trách nhiệm cũng lớn. Nói có vẻ sách vở, nhưng đúng là như vậy. Tôi cũng không khỏi có chút áy náy, bởi thấy còn nhiều người mình vốn hâm mộ chưa được vinh danh.

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Thống kê

  • Lượt truy cập: 106,695
  • Các thành viên: 587

Thơ

Trần Xuân An nằm lòng triều bãi đảo khơi

02.11.2011-15:15

Nhà thơ Trần Xuân An

 

Ngư trường từ xa xưa

                               

trước cả xa thẳm Chúa Tiên (1)

Hoàng Sa đã là quê xứ (2)

quốc sơ, mờ dăm nét sử

“tự thời nào”vẫn quốc sơ! (2)

lộng khơi, gần và xa bờ

ngư trường, giạt đến bất ngờ, Trường Sa!

                                                                    

“đông dài tận nam, bao la

nổi chìm biết mấy ngàn dặm” (2)

mươi đời, sử như trà đậm

tĩnh lòng. Như sóng, nhắc hoài!

ngư trường bát ngát tương lai

thuyền công quản, thuyền sinh nhai, chung đường

                                        

sóng chao, bõ nhớ đại dương

suốt đời võng nôi tấm bé

chèo đẩy, buồm che – dáng mẹ

dù con tóc sóng bạc đầu

Bạch Sa tròn một nong cau

Bàn Than đất Quảng, đây màu cơm thơm (3)

                                         

bá trạomúa nam hát nồm (4)

thả sức lưới giăng câu ném

ngư trường rộng dần mắt đếm

thuyền con liếc dọc lượn ngang

theo bước vó ngựa dặm ngàn

cảng đầm Thị Nại liền dần Óc Eo

                                    

khoang ghe no cá, bớt nghèo

quánh ruốc, óng vàng nước mắm

thêm vích đồi mồi ngừ nhám...

thương cảng thôi thúc ngư trường

hai bàn tay mở mười phương

Hoàng Sa khẽ vẫy là Trường Sa ơi

                                      

nằm lòng triều bãi đảo khơi

dẫn đường thuỷ quân vua Nguyễn

thuyền công ghe chài quyến luyến

Cồn Chùa Phật nối Côn Lôn (3)

Hoàng nối Trường, cũng Trường Sơn

bình phong vạn lí, đường mòn Biển Đông.

___________                                    

(1) Chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

 (2) Trong “Đại Nam thực lục”, còn gọi là “Hoàng Sa xứ”. Ở những dòng thơ này, có sử dụng cụm từ và câu trong sử, địa chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn và của Nguyễn Thông (tác giả “Việt sử cương giám khảo lược”, người Nam Bộ, sống ở tị địa Bình Thuận). Nhân đây, xin khẳng định thêm một lần nữa: Hoàng Sa theo Quốc sử quán là bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa (Paracel) lẫn quần đảo Trường Sa (Vạn lí Trường Sa, Spratly), và chắc hẳn còn gồm cả bãi ngầm ở phía đông nam Paracel, được các nhà hàng hải quốc tế gọi là Macclesfield bank.

 (3) Bạch Sa, còn được gọi là núi Phật Tự (đảo Chùa Phật), và Bàn Than là tên các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (Paracel). Bàn Than (với nghĩa là hòn đá lớn và bãi cát hay bãi đá chỉ nhô lên khi thuỷ triều xuống) cũng là tên một động đá nhỏ ở bãi biển Kỳ Hoà, xã Tam Hải, huyện Núi Thành (Lý Tín), thuộc tỉnh Quảng Nam.

 (4) Bá trạo (trăm chèo): tên gọi một điệu hát có vũ đạo của dân chài Nam Trung Bộ.

                                        

 

Thành luỹ Hoàng Sa - Trường Sa

                                   

Cửa Việt máu đẫm chiến công

thắng tàu Hà Lan cướp bóc... (1)

Hoàng Sa, lệ đầm ốc ngọc (2)

thuyền Thanh bão vỡ, xương khô...

ta tuần canh, nhặt tình cờ

rưng rưng mong chỉ biển cho tự lòng

                                          

toạ miếu dân thờ Cá Ông?

rạn tượng Phật thời Chúa Sãi?

mấy trăm năm cần dựng lại

hải đồ Quang Ảnh rộng tầm (3)

khắc bia đá, rải hạt mầm

xanh Hoàng Sa, tránh bẫy ngầm Trường Sa

                                

chỉ mươi ngày đêm khơi xa

Văn Nguyên có thành tên đảo?

mênh mông, tuy chưa thấu đáo

bản đồ Hữu Nhật, thẻ lim

bền trong trang sử im lìm

cùng dân Ngãi – Định không chìm công lao

                             

và cuối đông ấy, quên sao

thuyền Anh mưa mù mắc cạn

lóp ngóp ghe con sam bản

vào Bình Định, từ Hoàng Sa

áo cơm, đỡ tím xương da

chín mươi thuỷ thủ về nhà, nẻo Xin (4)

                                  

Lý Sơn càng ấm yêu tin

khi kẻ chức quyền bị án

sử ghi tội lưu Nguyễn Hoán (3)

sáng dân, Hoàng Sa – Trường Sa!

xưa sau, bút đỏ hồng hoa

đảo cô quạnh, không nhạt nhoà kỉ cương

                                  

ước xây luỹ giữa đại dương

chắn bão, lòng người lặng sóng

vững ân uy, khơi nguồn sống...

bỗng lửa Phương Tây thổi tràn

Á – Phi nghẹn trong tan hoang

Hoàng – Trường Sa cũng úa quầng hải đăng! (5)

__________________                                       

 (1) Năm 1585, xem: “Đại Nam thực lục tiền biên” (quyển I), bản dịch VSH., tập 1, Nxb. Giáo Dục tái bản, 2002, tr. 32.

(2) Một thứ ốc sản sinh ngọc ở Hoàng Sa (xem: Lê Quý Đôn, “Phủ biên tạp lục”, bản dịch Lê Xuân Giáo, PQVK. ĐTVH. – SG. xuất bản, 1972, tr.209).

(3) Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Phạm Văn Nguyên (năm 1835), Phạm Hữu Nhật (năm 1836), Nguyễn Hoán (năm 1845). Xem: ĐNTL.CB., các tập 1 (tr.898), 3 (tr.743), 4 (tr.673, 867) & 6 (tr.749), Nxb.GD. tái bản, 2002 & 2007.

(4) Năm 1836, xem: ĐNTL.CB., sđd., tập 4, tr.1058. Singapore, đúng ra, theo cách gọi hồi đó là Hạ Châu hay Tân Gia Ba.

(5) Hải đăng do kĩ sư Pháp thiết kế xây dựng tại Hoàng Sa và Trường Sa.

                                            

 

Lễ hội của lòng dũng cảm

                                                 

biển chờ nắng hẹn tháng ba

dâng hương tạ ơn Đất – Nước

cơm cá trống cờ nến đuốc

kì yên, thế lính khao lề (1)

thề trăm đi, nguyện trăm về

hội đình vượt suất, đảo quê gọi người

                                                 

thêm buồm, Bình Thuận ra rồi

Cảnh Dương đã vào chèo góp (2)

mấy tỉnh một bờ tụ họp

tuần đội Bắc Hải chung tay

theo đội Hoàng Sa đảo này

sau lễ tế, toả rộng dài Biển Đông

                                                 

chầu bên linh vị, song song

hai hàng nối vai sóng cuộn

pháp sư giọng trầm quán tưởng

như kẻ sơn tràng, rừng ơi

biển hỡi, ngư dân bao đời

khác chi lính, có ra khơi, không về...

                                                  

kìa thuyền giấy (chuối làm bè)

hình nhân, thạp, lu... (hàng mã)

thế mạng, không chùn chí cả

thấy chiếu bọc thây, vẫn đi

ra khơi, khát vọng lạ kì

máu dân biển chỉ yên khi dong buồm

                                                  

không thể sống đời ao chuôm

Hoàng Sa – Trường Sa bất tận!

như tế sống người ra trận

pháp sư vái cùng dân làng

hai đội ưỡn ngực hiên ngang

hẹn ngày về, sau thời gian canh tuần…

                                 

tháng ba tháng ba đã gần

tháng tám không xa mãi mãi

thầnra khơi, người về lại

phải đâu phép thuật đời thường

nghi thức như lau tấm gương

sáng trưng đảo Lý, trầm hương ảo huyền.                                                 

____________________

(1) Có thể phối kiểm với các thông tin cơ bản, được mô tả khách quan (thiếu vắng chất thơ) bởi nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu, về lễ hội khao lề thế lính ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), đã đăng trên nhiều báo chí.

(2) Cảnh Dương thuộc tỉnh Quảng Bình. Thời hạn mỗi chuyến tuần hành trong mỗi năm là khoảng từ 5 đến 6 tháng, từ tháng ba đến tháng tám. Xem: “Đại Nam thực lục tiền biên”,bản dịch VSH., tập 1, Nxb. Giáo Dục (tái bản), 2002, tr. 164...

 

THƠ TÁC GIẢ KHÁC:

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.