Bài học của Bác vẫn nguyên giá trị
Với gần 200 tài liệu, hiện vật, phim, ảnh, thư từ, bút tích của Bác được trưng bày tại triển lãm
Ca sĩ Mỹ gốc Việt khát khao tìm mẹ
Từ một cậu bé mồ côi phải sống trong cô nhi viện, rồi trở thành ca sĩ nổi tiếng tại Mỹ, đứng trên sân khấu với những tên tuổi hải ngoại
Người Việt đọc bao nhiêu sách mỗi năm?
Chưa có câu trả lời chính xác cho câu hỏi đó, bởi các thống kê về lượng sách tiêu thụ hằng năm không tính đến sách lậu bán vỉa hè và số lượt e-book lậu được tải về từ mạng.
Thuyền và bến - nhẹ nhàng và lắng đọng
Mặc dù ra mắt tập thơ đầu tay ở tuổi ngoại ngũ tuần, nhưng hầu hết các bài thơ trong tập thơ Thuyền và Bến
Kết quả cuộc thi thơ Bút Mới lần 9
Cuộc thi thơ Bút Mới lần 9 dành cho thể thơ tự do với chủ đề “Trái đất xanh” tổ chức trên tuyển tập Áo Trắng vừa công bố kết quả
Lê Văn Thảo“kể chuyện nghe chơi”
Danh hiệu nào cũng đem lại niềm vui, huống chi danh hiệu mang tên Hồ Chí Minh. Nhưng vinh dự lớn, trách nhiệm cũng lớn. Nói có vẻ sách vở, nhưng đúng là như vậy. Tôi cũng không khỏi có chút áy náy, bởi thấy còn nhiều người mình vốn hâm mộ chưa được vinh danh.
Dương Kiều Minh lữ thứ đời lữ thứ thơ
Ai đã từng gặp, nhất là đọc thơ Dương Kiều Minh, tôi dám chắc rằng cả trăm người đều bảo Dương Kiều Minh không phải là người sướng.
Vài nét người và thơ Hữu Thỉnh
Văn học cách mạng Việt Nam gần 70 năm qua có hai lần được đất nước coi là binh đoàn đặc biệt tinh nhuệ và thơ
Từ Quốc Hoài nỗi niềm Sóng và khoảng lặng
Tập thơ Sóng và khoảng lặng của nhà thơ Từ Quốc Hoài từng được vào vòng chung khảo Giải thưởng Hội Nhà văn TP Hồ Chí
Đỗ Chu báo động một sự thật
Đôi khi chúng ta bức xúc khi thấy nền văn học nước nhà sao vẫn không có những tác phẩm kiệt xuất.
02.11.2011-15:15

Nhà thơ Trần Xuân An
Ngư trường từ xa xưa
trước cả xa thẳm Chúa Tiên (1)
Hoàng Sa đã là quê xứ (2)
quốc sơ, mờ dăm nét sử
“tự thời nào”vẫn quốc sơ! (2)
lộng khơi, gần và xa bờ
ngư trường, giạt đến bất ngờ, Trường Sa!
“đông dài tận nam, bao la
nổi chìm biết mấy ngàn dặm” (2)
mươi đời, sử như trà đậm
tĩnh lòng. Như sóng, nhắc hoài!
ngư trường bát ngát tương lai
thuyền công quản, thuyền sinh nhai, chung đường
sóng chao, bõ nhớ đại dương
suốt đời võng nôi tấm bé
chèo đẩy, buồm che – dáng mẹ
dù con tóc sóng bạc đầu
Bạch Sa tròn một nong cau
Bàn Than đất Quảng, đây màu cơm thơm (3)
bá trạomúa nam hát nồm (4)
thả sức lưới giăng câu ném
ngư trường rộng dần mắt đếm
thuyền con liếc dọc lượn ngang
theo bước vó ngựa dặm ngàn
cảng đầm Thị Nại liền dần Óc Eo
khoang ghe no cá, bớt nghèo
quánh ruốc, óng vàng nước mắm
thêm vích đồi mồi ngừ nhám...
thương cảng thôi thúc ngư trường
hai bàn tay mở mười phương
Hoàng Sa khẽ vẫy là Trường Sa ơi
nằm lòng triều bãi đảo khơi
dẫn đường thuỷ quân vua Nguyễn
thuyền công ghe chài quyến luyến
Cồn Chùa Phật nối Côn Lôn (3)
Hoàng nối Trường, cũng Trường Sơn
bình phong vạn lí, đường mòn Biển Đông.
___________
(1) Chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
(2) Trong “Đại Nam thực lục”, còn gọi là “Hoàng Sa xứ”. Ở những dòng thơ này, có sử dụng cụm từ và câu trong sử, địa chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn và của Nguyễn Thông (tác giả “Việt sử cương giám khảo lược”, người Nam Bộ, sống ở tị địa Bình Thuận). Nhân đây, xin khẳng định thêm một lần nữa: Hoàng Sa theo Quốc sử quán là bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa (Paracel) lẫn quần đảo Trường Sa (Vạn lí Trường Sa, Spratly), và chắc hẳn còn gồm cả bãi ngầm ở phía đông nam Paracel, được các nhà hàng hải quốc tế gọi là Macclesfield bank.
(3) Bạch Sa, còn được gọi là núi Phật Tự (đảo Chùa Phật), và Bàn Than là tên các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (Paracel). Bàn Than (với nghĩa là hòn đá lớn và bãi cát hay bãi đá chỉ nhô lên khi thuỷ triều xuống) cũng là tên một động đá nhỏ ở bãi biển Kỳ Hoà, xã Tam Hải, huyện Núi Thành (Lý Tín), thuộc tỉnh Quảng Nam.
(4) Bá trạo (trăm chèo): tên gọi một điệu hát có vũ đạo của dân chài Nam Trung Bộ.
Thành luỹ Hoàng Sa - Trường Sa
Cửa Việt máu đẫm chiến công
thắng tàu Hà Lan cướp bóc... (1)
Hoàng Sa, lệ đầm ốc ngọc (2)
thuyền Thanh bão vỡ, xương khô...
ta tuần canh, nhặt tình cờ
rưng rưng mong chỉ biển cho tự lòng
toạ miếu dân thờ Cá Ông?
rạn tượng Phật thời Chúa Sãi?
mấy trăm năm cần dựng lại
hải đồ Quang Ảnh rộng tầm (3)
khắc bia đá, rải hạt mầm
xanh Hoàng Sa, tránh bẫy ngầm Trường Sa
chỉ mươi ngày đêm khơi xa
Văn Nguyên có thành tên đảo?
mênh mông, tuy chưa thấu đáo
bản đồ Hữu Nhật, thẻ lim
bền trong trang sử im lìm
cùng dân Ngãi – Định không chìm công lao
và cuối đông ấy, quên sao
thuyền Anh mưa mù mắc cạn
lóp ngóp ghe con sam bản
vào Bình Định, từ Hoàng Sa
áo cơm, đỡ tím xương da
chín mươi thuỷ thủ về nhà, nẻo Xin (4)
Lý Sơn càng ấm yêu tin
khi kẻ chức quyền bị án
sử ghi tội lưu Nguyễn Hoán (3)
sáng dân, Hoàng Sa – Trường Sa!
xưa sau, bút đỏ hồng hoa
đảo cô quạnh, không nhạt nhoà kỉ cương
ước xây luỹ giữa đại dương
chắn bão, lòng người lặng sóng
vững ân uy, khơi nguồn sống...
bỗng lửa Phương Tây thổi tràn
Á – Phi nghẹn trong tan hoang
Hoàng – Trường Sa cũng úa quầng hải đăng! (5)
__________________
(1) Năm 1585, xem: “Đại Nam thực lục tiền biên” (quyển I), bản dịch VSH., tập 1, Nxb. Giáo Dục tái bản, 2002, tr. 32.
(2) Một thứ ốc sản sinh ngọc ở Hoàng Sa (xem: Lê Quý Đôn, “Phủ biên tạp lục”, bản dịch Lê Xuân Giáo, PQVK. ĐTVH. – SG. xuất bản, 1972, tr.209).
(3) Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Phạm Văn Nguyên (năm 1835), Phạm Hữu Nhật (năm 1836), Nguyễn Hoán (năm 1845). Xem: ĐNTL.CB., các tập 1 (tr.898), 3 (tr.743), 4 (tr.673, 867) & 6 (tr.749), Nxb.GD. tái bản, 2002 & 2007.
(4) Năm 1836, xem: ĐNTL.CB., sđd., tập 4, tr.1058. Singapore, đúng ra, theo cách gọi hồi đó là Hạ Châu hay Tân Gia Ba.
(5) Hải đăng do kĩ sư Pháp thiết kế xây dựng tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Lễ hội của lòng dũng cảm
biển chờ nắng hẹn tháng ba
dâng hương tạ ơn Đất – Nước
cơm cá trống cờ nến đuốc
kì yên, thế lính khao lề (1)
thề trăm đi, nguyện trăm về
hội đình vượt suất, đảo quê gọi người
thêm buồm, Bình Thuận ra rồi
Cảnh Dương đã vào chèo góp (2)
mấy tỉnh một bờ tụ họp
tuần đội Bắc Hải chung tay
theo đội Hoàng Sa đảo này
sau lễ tế, toả rộng dài Biển Đông
chầu bên linh vị, song song
hai hàng nối vai sóng cuộn
pháp sư giọng trầm quán tưởng
như kẻ sơn tràng, rừng ơi
biển hỡi, ngư dân bao đời
khác chi lính, có ra khơi, không về...
kìa thuyền giấy (chuối làm bè)
hình nhân, thạp, lu... (hàng mã)
thế mạng, không chùn chí cả
thấy chiếu bọc thây, vẫn đi
ra khơi, khát vọng lạ kì
máu dân biển chỉ yên khi dong buồm
không thể sống đời ao chuôm
Hoàng Sa – Trường Sa bất tận!
như tế sống người ra trận
pháp sư vái cùng dân làng
hai đội ưỡn ngực hiên ngang
hẹn ngày về, sau thời gian canh tuần…
tháng ba tháng ba đã gần
tháng tám không xa mãi mãi
thầnra khơi, người về lại
phải đâu phép thuật đời thường
nghi thức như lau tấm gương
sáng trưng đảo Lý, trầm hương ảo huyền.
____________________
(1) Có thể phối kiểm với các thông tin cơ bản, được mô tả khách quan (thiếu vắng chất thơ) bởi nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu, về lễ hội khao lề thế lính ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), đã đăng trên nhiều báo chí.
(2) Cảnh Dương thuộc tỉnh Quảng Bình. Thời hạn mỗi chuyến tuần hành trong mỗi năm là khoảng từ 5 đến 6 tháng, từ tháng ba đến tháng tám. Xem: “Đại Nam thực lục tiền biên”,bản dịch VSH., tập 1, Nxb. Giáo Dục (tái bản), 2002, tr. 164...
THƠ TÁC GIẢ KHÁC:
Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.