Tin mới Xem thêm

  • Thơ Lê Đạt: Cha tôi

    Đất quê cha tôi/ đất quê Đề Thám/ Rừng rậm sông sâu/ Con gái cũng theo đòi nghề võ/ Ngày nhỏ/ cha tôi dẫn đầu/ lũ trẻ đi chăn trâu/ Phất ngọn cờ lau/ Vào rừng Na Lương đánh trận/ Mơ làm Đề Thám/ Lớn lên/ cha tôi đi dạy học/ Gối đầu trên cuốn Chiêu hồn nước/ Khóc Phan Chu Trinh/ Như khóc người nhà mình/ Ôm mộng bôn ba hải ngoại/ Lênh đênh khói một con tàu

  • Trần Hữu Thung ‘ở quê’ như tôi biết

    Chỉ đến khi nghe về Trần Hữu Thung qua anh em, bè bạn, đọc thơ văn của ông, trực tiếp nghe ông nói thật khẽ, thật sâu, tôi mới hiểu, rằng, càng trở về quê

  • Trần Quốc Cưỡng - Mùa chim chích

    Mùa mưa, đồng lác làng Hạ nước trắng xóa. Những chú chim chích bấu víu những cọng lác làm tổ. Chúng sinh con ngay trong mùa đông

  • Hội nhà văn và chuyện hỗ trợ sáng tác, xuất...

    Một thực tế không thể phủ nhận là tại các hội nhà văn, điều thường được hội viên nhắc mỗi kỳ hội nghị là tác phẩm viết ra nhưng không tìm được nguồn xuất bản, trong khi ngược lại, các nhà xuất bản lại luôn than rằng không có bản thảo của tác giả trong nước để xuất bản

  • Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn...

    Ngôn ngữ độc thoại là một phần quan trọng của tác phẩm văn chương. Cùng với ngôn ngữ đối thoại nó hoàn chỉnh tác phẩm ở góc độ

  • Thanh Quế một chấm nhỏ muôn đời xê dịch

    Anh không thể quên em/ Chiếc hôn đằm thắm/ Dưới vòm cây xao động/ Một đêm hè đầy sao/ Anh không thể quên em

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Nguyễn Minh Khiêm - Giật mình… Mai Hương

13.8.2017-20:00

Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm

 

Giật mình… Mai Hương

 

NGUYỄN MINH KHIÊM

 

NVTPHCM- Người làm thơ cần rất nhiều thứ phát hiện. Nhưng quan trọng nhất, cần thiết nhất là phát hiện ra năng lực mình, sở trường mình, cái mạnh nhất của mình. Tôi tin Mai Hương nhanh chóng phát hiện ra mình, phát hiện ra cái mạnh của mình, sở trường của mình…

 

Tôi đã giật mình khi đọc những câu thơ này của Mai Hương “Hãy ôm em như thuở ban đầu/ Hãy hôn em thật sâu, thật sâu/ Để em biết em vẫn còn con gái/ Hãy níu lấy em trong đêm nay/ Và hãy làm cách nào tốt nhất/ Để đầu óc em choáng ngợp anh/ Để con tim em tràn đầy anh/ Không còn chỗ cho người đàn ông khác/ Chỉ cần đêm nay anh rời tay anh/ chỉ cần đêm nay anh ngừng nghĩ đến em/ Chỉ cần đêm nay anh ơ hờ lạnh nhạt/ Là phần thắng sẽ thuộc về người khác”(Hãy trói chặt tim em). Táo bạo. Mãnh liệt. Khao khát. Bản ngã. Tình đến lõi. Yêu đến lõi. Thúc bách. Đầy nữ tính. Thơ đã xô đổ dược cái rườm rà. Thơ đã xô đổ được cái cầu kỳ. Thơ bóc được cái màu hè, hào nhoáng trang điểm đi thẳng đến ruột chữ, hồn chữ. Chính những câu thơ này đã lôi cuốn tôi đọc ngay, đọc hết tập thơ “Khúc tự ru” (NXB VH 2016) vừa được Mai Hương tặng. Từ năm này đến năm kia (2007 – 2016) không phải là ngắn. Từ tập thơ này đến tập thơ kia (Từ “Đốm lửa nhỏ”(NXB Thanh Hóa.2007) đến “Khúc tự ru”) không phải là dài. Một đời thơ, đó mới chỉ là từ bước chân này đến bước chân khác, từ bậc thang này lên bậc thang khác. Mới một bước chân đã tạo ra được cái mới. Mới một bậc thang đã có sự khác biệt. Chững chạc. Tự tin. Nhiều bài thơ cấu trúc vững chãi, chặt chẽ. Nó phát đi tín hiệu cho thấy Mai Hương thay đổi căn bản cách nghĩ, cách cảm, cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh. Hiệu quả thơ mạnh hơn, sâu hơn.

 

Người đọc cảm nhận được có một bước ngoặt tâm lý, bước ngoặt biểu cảm trong thơ Mai Hương, nhận ra được thế mạnh, sở trường của thơ Mai Hương. “Khúc tự ru” tồn tại hai nửa tư duy, hai nửa bút pháp, hai nửa cấu trúc nghệ thuật.      Một nửa tư duy dịu dàng, êm đềm, đẹp đẽ, chau chuốt, đậm phong cách cổ điển. “Vạch thời gian”, “K14 thân yêu”, “Ngày gặp mặt”, “Mùa tàn hương”, “Ước mơ của chích bông”, “Về Nga Sơn”…là những bài thơ thuộc tuýp nhẹ nhàng, duyên dáng, lấp lánh câu chữ. Thơ ấm áp, trong trẻo, ngọt ngào. Soi vào đó thấy hồn thơ trời yên biển lặng: “Trái dưa ngọt tự bao giờ/ Mà sao níu đảo vào bờ xe duyên/ Lênh đênh sóng bạc xô thuyền/ Người đi kẻ ở truân chuyên Thần Phù”(Về Nga Sơn). Hay những câu “Con vẫn ngủ, môi bé cười hương sữa/ Giấc mơ ơi xin len nhẹ trong hồn/ Gió khẽ hát ru đều qua khung cửa/ Bàn phím ươm mầm bật sáng những chồi xanh”(Chuyện nhà nông). Thơ không? Thơ lắm. Thi sĩ không? Thi sĩ lắm. Công phu dụng chữ không? Công phu lắm. Ấy thế mà người đọc vẫn thấy thiếu một cái gì như muối, như sóng, như sự cào cứa. Chùm bài viết về biên giới hải đảo, lính chiến đấu, doanh nhân có nhiều khổ thơ đáng yêu “Nơi ấy là Tổ Quốc/ Triệu nhánh san hô kết thành rừng hoa đá/ Cây bàng vuông đan trời xanh qua mắt lá/ Chuông chùa ngân hòa tiếng hát chào cờ”(Nơi ấy là Tổ quốc); “Tôi xiết chặt tay anh, bàn tay doanh nhân trẻ/ Bàn tay cuốc cày một thuở đồng chiêm/ Bàn tay từng lấm lem khoai lùi sắn nướng/ Vẫn ấm tình người tình đất quê hương” (Bàn tay ấy). Hỏi thơ như thế có được không? Ai bảo không được? “Cơn đại hồng hỏa liếm cả vạt rừng non mới nhú/ Những nhà máy bức tử những dòng sông” (Truyện cổ tích ba nghìn năm về trái đất), rồi “Máu đổ xuống cho màu cờ chói lọi/ Lòng mẹ đau, núm ruột ở Trường Sa”(Nếu biển đông chỉ duy có bão)…Hỏi thơ như thế có được không? Ai bảo không được. Nó được trong yêu mến, trong hy vọng. Nó được trong sự chờ đợi chín. Nó được trong giá như một số lá vàng lá sâu rụng đi, một số cành nhỏ lươm tươm rụng đi để cây thơ, cành thơ, quả thơ lực lưỡng hơn, vậm vạp hơn, khỏe mạnh hơn, căng mập hơn.

 

Một nửa “Khúc tự ru” mang sắc thái tư duy dữ dội, tung phá, quyết liệt, không ngại va quệt, tha hồ cho con chữ bộc lộ tận cùng ý nghĩ. “Trái tim không biết nói”, “Nếu”, “Chẳng nợ duyên”, “Xin trả lại”, “Đừng Đan Kô”, “Bóng đè”, “Rồi một ngày tôi chợt nhận ra”, “Có còn gọi là yêu”, “Hãy trói chặt tim em”, “Đất lạnh”…là những bài thơ thuộc tuýp dữ dội, tung phá. Tôi không chú ý lắm đến nỗi đời, nỗi người, sự đứt gãy tâm lý đời thường trong “Khúc tự ru”. Cái đau đớn ngoài đời chưa phải là yếu tố duy nhất, quan trọng nhất thay đổi được hồn thơ, phong cách thơ. Tôi chú ý đến sự bứt phá về thơ trong “Khúc tự ru”. Cái lớn của nhà thơ, cái cốt lõi đối với một nhà thơ không phải là thể hiện được bao nhiêu uẩn khúc cuộc đời, đưa được bao nhiêu uẩn khúc va đập ấy vào thơ mà phải thể hiện được sự chinh phục ngôn ngữ thế nào, làm chủ ngôn ngữ thế nào, sáng tạo ra ngôn ngữ thế nào, vượt lên mình, thể hiện tính cách thơ thế nào. Cái đau đớn, dằn vặt về câu chữ, tìm tòi cái mới, khát vọng cái mới, thơ có một diện mạo mới, tạo lập được ngôn ngữ, tạo lập được cái riêng nó còn đau đớn hơn nhiều. Chính cái đó khẳng định tên tuổi nhà thơ, thương hiệu nhà thơ. Đó là nội lực nhà thơ, nghị lực nhà thơ, con đường nhà thơ.

Tập thơ “Khúc tự ru” của Mai Hương

 

Tôi cực kỳ ấn tượng khi đọc những câu thơ này “Nếu một ngày kia cơm chẳng lành canh chẳng ngọt/ Anh đem em ra so với vợ mình/ Em – hiện thân của quá khứ, vô tình/ Trở thành bóng ma ám vào hạnh phúc/ Nếu một ngày kia trong cơn tức bực / Anh nói với vợ mình cô ấy chẳng bằng em/ Em thành tử thần bóp chết trái tim yêu” (Nếu). Không bàn nội dung ý nghĩa những câu thơ. Tôi chú ý đến khẩu khí, cách chọn từ ngừ, tổ chức ngôn ngữ, sâu chuỗi ý nghĩ. Cái tài của nhà thơ là tổ chức ngôn ngữ, làm sao huy động đến mức tối đa sức mạnh của ngôn ngữ để chinh phục người đọc. Tôi không bình, không phân tích, không đánh giá nhưng ai cũng bị những câu thơ trên ám ảnh. Ám ảnh và suy ngẫm. Đó là thành công của thơ. Thơ không bống, không vụng, không nhạt nhẽo, không dàn chải đã quý. Thơ găm vào người đọc, chi phối người đọc, chi phối con tim khối óc người đọc, đọc xong rồi cứ lật đi lật lại càng quý.

 

Đọc một số bài thấy Mai Hương có thế mạnh về tư duy trực cảm, ngôn ngữ trực cảm. Những câu thơ trực cảm bật thẳng từ con tim khối óc của Mai hương ra sắc nhọn. Đắng, ngọt, chát, chua thơ cứa ngay vào đầu lưỡi không cần phải bóc lớp vỏ xiêm áo phấn son làm duyên câu chữ. Người chưa trải nghiệm, chưa va chạm, chưa nếm nỗi đau đọc những câu thơ của Mai Hương, một là phản ứng rất quyết liệt, hai là bị sốc. “Rồi một ngày ta chợt nhận ra/ Mình đang nghĩ tới người đàn ông khác/ Người sống bên tôi giống như người xa lạ/ Tôi tự hỏi vì sao, vì sao thế/ Bạn đời tôi giống như người ở trọ/ Đi hết nửa đời mà chẳng thể sẻ chia/ Tôi cô độc trên hành trình hôn thú” (Rồi một ngày tôi chợt nhận ra). Thơ Mai Hương là tiếng nói bình đẳng giới đích thực trong xã hội. Ta thấy rõ nhất là bình đẳng về quyền bộc lộ cảm xúc, bộc lộ chính kiến, quyền phát ngôn yêu ghét trung thực từ trái tim mình. Cái dịu dàng cam chịu, ủy mỵ, ngoan ngoãn trong giam cầm giả dối, cái bất hạnh được thay thế bằng sự bứt phá, tự quyết định số phận, con đường đi của chính mình. Đành rằng  đôi lúc không dễ dàng, nó trì níu khủng khiếp trong lòng “Như bóng ma cứ đè xuống bóng mình/ Tôi giãy dụa, giấc mơ trưa sực tỉnh/ Trái tim sầu vẫn vẹn một niềm đau” (Bóng đè). Có lúc phải thốt lên “Tình yêu ơi sao mi giật lên từng cơn bão tố/ Vạn chiếc lá hình con tim tan tác đớn đau!”. Không phải Mai Hương không sợ dư luận. Mai Hương hiểu dư luận. Nhưng Mai Hương không làm thơ cho dư luận, không theo dư luận, không chiều dư luận, càng không tránh né dư luận. Mai Hương làm thơ cho nỗi niềm mình, nỗi lòng mình, cho riêng tư mình, tâm trạng mình và cả cho nỗi đau nhân thế, khi chứng kiến những thân phận bầm dập giữa đời đen bạc. Mai Hương sẻ chia nỗi đau của mình với đời tự hóa thân vào những nỗi đau đời để cảm thông, chiêm nghiệm. Cho nên, có khi xưng “em” đó mà không phải là em, xưng “tôi” đó mà không phải là tôi, mà là một thân phận  Mai Hương chủ động hóa thân vào ( Thù tình, Nếu, Âm bản, Nói với dâu con...). Dư luận hiểu làm sao được “Xé nát ngực son trinh nữ/ Nỗi đau bằn vế tim non/ Bầm dập đòn ghen bạo ngược”(Nỗi đau cổ tích). Trong thơ ca Việt Nam đương đại đây không phải lần đầu tiên trái tim con gái quẫy đạp, vùng dậy đòi được thể hiện chính mình, nói tiếng nói máu thịt mình. Mấy chục năm trước đã có một số cây bút trẻ nổi tiếng “nổi loạn” về chủ đề này. Nhưng đọc Mai Hương ta không thấy cũ. Bởi chiều sâu uẩn khúc tình yêu, hạnh phúc của mỗi cuộc đời, mỗi số phận khác nhau. Cái khác nhau ấy được Mai Hương thể hiện có cá tính, có bản lĩnh, có ngôn ngữ riêng “Xin trả lại những gì là kỷ niệm/ Suốt đời này chẳng thể thuộc về nhau/ Xin trả lại, người ơi xin trả lại/ Quên là quên, đừng níu, trái tim đau”(Xin trả lại). 

 

Không phải khi bộc lộ cái riêng, cái tôi, cái sâu kín khuất lấp khả năng tư duy trực cảm, ngôn ngữ trực cảm Mai Hương mới mạnh. Khi nói về một vấn đề xã hội, vấn đề thời đại, tư duy trực cảm của Mai Hương cũng rất sắc bén “Chiếc khăn đẫm máu trộn bùn/ Lau rồi vắt, rồi lau, rồi vắt/ Các anh nằm…lạnh ngắt…mẹ đau”/…/Cả làng chèo thuyền đi cứu thương binh/ Cả làng góp ván hòm chôn cất bốn mươi liệt sĩ”(Đất lạnh). Hình như bài nào, chỗ nào đụng đến bức xúc, dồn nén, đụng đến phát biểu trực tiếp quan điểm mình, ý thức mình, lẽ sống, nhân cách mình là bài ấy Mai Hương gây ấn tượng mạnh.

 

Điểm nổi bật nhất của thơ Mai Hương là nói thẳng, không vòng vo, không rườm rà, không nhiều từ đệm, từ nối, không nhiều những phó từ thì, và, là, mà, không có những hình dung từ, nhóm hình dung từ như vô cùng, rất chi là, tuyệt vời, kỳ diệu… Bảy mươi chín bài trong tập “Khúc tự ru” dù ngắn, dù dài, dù lục bát, tự do đều thể hiện rõ tác giả cố gắng đến mức cao nhất khả năng chọn lọc ngôn ngữ, hình ảnh. Có bài thơ, Mai Hương giấu được cảm xúc, biết đứng sau ngôn ngữ, không cầm đèn chạy trước ngôn ngữ, mọi thứ đều để cho ngônngữ thơ, hình ảnh thơ tự nói: “Vào cuộc chiến/ Người lính nào cũng giơ khiên trước ngực/ Nhìn kẻ thù trước mặt để tấn công/ Chẳng thể ngờ/ Có một ngày vết sẹo đầy lưng”(Vết sẹo). Ngắn, gọn, xúc tích. Sự luyện lọc, chưng cất, kiệm lời, kiệm chữ biểu hiện rất cao.

               

Người làm thơ cần rất nhiều thứ phát hiện. Nhưng quan trọng nhất, cần thiết nhất là phát hiện ra năng lực mình, sở trường mình, cái mạnh nhất của mình. Tôi tin Mai Hương nhanh chóng phát hiện ra mình, phát hiện ra cái mạnh của mình, sở trường của mình. Có thể tập thơ sau, nhiều bài thơ của Mai Hương không chỉ làm cho tôi mà làm cho nhiều bạn đọc giật mình về sự bứt phá.

 

2.7.2017

 

TIN LIÊN QUAN:

 

>> Những bước chân nhẹ trên những con đường cũ- Huỳnh Như Phương

>> Phía sau sự dịu dàng lặng lẽ Gia Hoà - Trần Lê Sơn Ý

>> Về sự phân biệt thi pháp học và lí luận văn học - Trần Đình Sử

>> Mưa đỏ - Bản giao hưởng nhân văn - Hoàng Thuỵ Anh

>> Chủ nghĩa cấu trúc ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) - Huỳnh Như Phương - Kỳ 3

>> Chủ nghĩa cấu trúc ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) - Huỳnh Như Phương - Kỳ 2

>> Chủ nghĩa cấu trúc ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) - Huỳnh Như Phương - Kỳ 1

>> Những giới hạn của lí thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung

>> Bửu Đình, nhà tiểu thuyết Nam Bộ - Lê Tiến Dũng - Hồ Khánh Vân

>> Nhà văn Hữu Mai và quan niệm văn chương

>> Phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Phạm Thị Như Thuý

>> Những câu chuyện của một người yêu sách - Huỳnh Như Phương

>> Sự trở lại của đề tài chiến tranh trên văn đàn - Bùi Việt Thắng

>> Những người mở đường của Hồ Thủy Giang - Cao Hồng

>> Lê Huy Quang và những vần thơ Phải khác - Đỗ Ngọc Yên

>> Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương

>> Tổ quốc qua Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng - Phan Thuỷ

 

 

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC...  

  

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.