Tin mới Xem thêm

  • Thanh Tâm Tuyền vỡ vào chuông giáo đường

    Cùng với Vũ Hoàng Chương và Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền là 3 gương mặt tiêu biểu của thi ca miền Nam (1955-1975). Với Thanh Tâm Tuyền

  • Truyện ngắn Nguyễn Trí: Mùi của rác

    Hôm ấy mới chín giờ sáng nhưng những cái loa phóng thanh trên các con đường ở xã đã phát trên chục lần cái tin: “Đề nghị nhân dân trong

  • Phạm Sỹ Sáu & Pháo dậy phố xuân - 6

    Sài Gòn vào xuân/ Sài Gòn Mậu Thân/ Sài Gòn pháo dậy/ Sài Gòn như những gì ta đã thấy/ Sau pháo tết thơm lừng là pháo hội vào xuân/ Pháo nã vào đầu thù/ Pháo thức tỉnh nhân dân/ Pháo rộn cả những nơi chưa hề rung lên tiếng pháo/ Ai ra đi trong ngày lửa dậy/ Ai ra đi trong lòng sục sôi

  • Đổ xô đi làm hộ chiếu

    Liên tiếp những ngày qua, người dân TP.HCM đi làm hộ chiếu tăng đột biến dẫn đến tình trạng quá tải. Trong các ngày

  • Thành Chung thế chữ nằm ngang

    Ông thày đồ cong lưng trên tờ giấy phẳng/ Ngọn bút chạy ngoằn ngoèo trong ánh nắng/ Ráp con rồng lên thân chữ

  • Người tài không thiếu, chỉ thiếu người biết...

    Trong xu hướng phát triển hiện đại, quốc gia nào có nhiều nhân tài, hiền tài, lao động tri thức và nguồn nhân lực phát triển thì quốc gia đó sẽ có tốc độ phát triển nhanh và có đủ khả năng xử lý các nguồn thông tin cho đất nước mình và chiến thắng trong quá trình hội nhập quốc tế

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Nghiên Cứu - Phê Bình

Lối đi tâm linh trong thơ Hoàng Cầm

05.02.2018-00:30

Nhà thơ Hoàng Cầm

 

Lối đi tâm linh trong thơ Hoàng Cầm

 

 LÊ THỊ THANH TÂM

 

NVTPHCM- Chỉ có Trường thơ Loạn và nhóm Xuân thu nhã tập trước năm 1945 là hai thi phái hiện đại duy nhất ở Việt Nam có những quan tâm thật sự về tâm linh trong thơ, tâm linh theo nghĩa là một thứ “linh khí” của sáng tạo. Tâm linh trong thơ ca của người Việt vẫn còn là mảnh đất tiếp tục mới.

 

Tâm linh và văn học vốn được xem là một mối quan hệ phức tạp, đa nghĩa, “dễ phiền toái”, “gây hệ lụy” nên cả người viết lẫn người đọc đều không có khuynh hướng mổ xẻ, giãi bày nó làm gì. Hơn nữa, “tâm linh” (xét như một tính chất của tác phẩm văn học) là một trong số những từ ngữ khó xác định nội hàm nhất. Đức tin, hồn ma, mộng mị, thần thánh, ảo giác huyền hồ, ân oán trả đền, kiếp trước kiếp sau, tiên cảm tiên tri,… có phải tất cả đều là tâm linh, là cái mà lý trí thông thường khó chấp nhận? Sẽ giải thích thế nào trước một thực tế: Kinh Thánh Thiên Chúa giáo là suối nguồn vô tận cho những đỉnh cao văn học châu Âu, Kinh Thi, Đạo đức Kinh, Nam hoa Kinh của Trung Hoa đã làm nên biết bao tượng đài thơ ca châu Á, Kinh Veda của Ấn Độ, hệ thống Kinh điển Phật giáo Đại thừa Đông Á đã “hiến tế” cho nhân loại những nghệ sĩ thượng thặng. Trong sâu xa, cảm hứng “nói bằng sự kính tin” và “nói với đấng kính tin” có lẽ là cội nguồn miên mật của ngôn ngữ tôn giáo và cuộc sáng tạo bất tận của văn chương.

 

Bởi vậy, những thiên tài văn chương qua nhiều thế kỷ của nhân loại thường được ca tụng là “nhà tiên tri”, “kẻ thấu thị”, “người có con mắt trông thấu sáu cõi”, “tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”… Tâm linh là những phần suy tư sâu sắc nhất được chưng cất mãnh liệt của con người về những cảm nghiệm sống, vượt qua nhiều giới hạn không gian và thời gian. Tâm linh là một giá trị của văn học.

 

Để có thể nói được những điều sâu kín mà phổ quát nhất, tác phẩm chắc chắn cần đến một bệ đỡ là những suy tư tâm linh mà sau đó sẽ biến thành quả ngọt sáng tạo. Không thể có những tiếng nói đa thanh đa nghĩa đến cốt tủy nếu tác giả của những tiếng nói ấy lại là người sơ sài về “khả năng tâm linh”.

 

Đương nhiên, cũng không có nguyên tắc nào để khẳng định chỉ có văn học tâm linh mới là đáng giá. Nhưng tâm linh trong văn học và văn học tâm linh là hai chuyện khác nhau, và cũng thật khó tin rằng những tác phẩm đã bỏ mặc tiếng gọi của tâm linh sâu xa mà vẫn có thể đạt tới những giá trị lớn.

 

Honoré de Balzac, bậc thầy chủ nghĩa hiện thực châu Âu, cũng là tác giả của “Miếng da lừa” huyền hoặc – một phúng dụ cay đắng về giá trị con người trong thử thách của xã hội đồng tiền, một huyền thoại giàu ý nghĩa tâm linh bổ sung vào cái nền hiện thực tàn bạo và đáng chán.

 

Trở lại câu chuyện của thơ ca Việt, có quá nhiều lý do khách quan và chủ quan để nói rằng: “tâm linh” là một chủ đề nhạy cảm không thua kém bất kỳ sự nhạy cảm chính trị, tôn giáo nào. Nó từng được ủ men trong Trường thơ Loạn, bởi chủ soái Hàn Mặc Tử vốn cũng là người yêu mến và am hiểu Thiên Chúa giáo, người đã rọi một thứ ánh sáng khác biệt xuống khoái cảm nghệ thuật của độc giả đương thời, một thứ ánh sáng ẩn mật, đau đớn và giàu ý nghĩa thần học. Nhưng Trường thơ Loạn cũng sớm kết thúc sứ mệnh tâm linh ngắn ngủi cùng với sự ra đi của Hàn. Đoàn Phú Tứ của Xuân thu nhã tập viết: “Còn những bạn nào nữa đây, ở những bến trời xa lạ, cùng chúng ta “giũ áo lên Đền”, trong một điệu đàn thanh khí”[1]. Lần này, ở quãng cuối của trào lưu Thơ mới, một tuyên ngôn đậm đặc yếu tính tâm linh lại xuất hiện. Nó không nhận mình là “điên”, là “loạn” mà nhận là “thanh khí”, là “nhã”. Thơ trở thành “Thi Đền”. Sang trọng biết bao! Nhưng rồi nhóm Xuân thu nhã tập cũng biến mất cùng tiếng chuông lịch sử năm 1945, “cáo chung” thời đại cũ. Thơ ca kháng chiến cuồn cuộn đưa con người vào cơn lốc chiến tranh, khó có chỗ cho tâm linh trú ngụ.

 

Từ bấy đến nay, câu chuyện thơ ca và tâm linh vẫn còn là mối dở dang. May thay, có một người gợi cho tôi niềm tin mạnh mẽ về một thứ văn nghệ “biết đến tâm linh” và “biết đến cái đẹp của tâm linh”. Người ấy là nhà thơ Hoàng Cầm.

 

Một sớm du xuân về Thuận Thành, đứng ở chùa Dâu, rồi ngồi giữa đồng cạnh chùa Bút Tháp, tôi thấy hồn thơ Hoàng Cầm trở về không dứt. Quả không phải chỉ Hoàng Cầm “về Kinh Bắc”. Sẽ còn nhiều độc giả tiếp tục cuộc trở về ấy, không phải chỉ vì lời dụ gọi của những làn điệu quan họ mà hẳn còn vì họ muốn nhìn thấy muôn nghìn Kinh Bắc khác nữa, qua người dẫn đường kỳ lạ, người kể chuyện độc nhất vô nhị, người được Kinh Bắc sinh ra và sinh ra “Kinh Bắc”: Hoàng Cầm.

 

Nếu đem đặt chất thôn quê bình dị của Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính với “hồn quê Việt” của Hoàng Cầm thì chẳng có gì sai, nhưng cách ấy không khéo rất dễ làm mờ tan ít nhiều phong vị ám ảnh từ âm ba cây đàn lia mà chàng hoàng tử bé xứ Bắc Ninh xưa gẩy lên mê hoặc. Vẫn cảnh quang và dải yếm quê mùa của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, song, cốt cách Hoàng Cầm vẫn không thể chia sẻ với giọng quê truyền thống. Ông là một đối thoại rất khác biệt với truyền thống.

 

1. Cảm hứng hồi tưởng - tâm linh hóa ký ức

 

Thơ Hoàng Cầm là tiếng nói của hồi tưởng. Nhà thơ Hoàng Hưng có một bài viết lấy nhan đề Hoàng Cầm - Một đời nhớ tiếc, một đời “níu xuân xanh”. Nỗi nhớ tiếc trong thơ Hoàng Cầm nhiều đến mức tạo nên “điệu nhớ” dai dẳng, và cũng giúp ta cắt nghĩa được nhiều nỗi đa đoan trong nội tâm phong phú, u huyền của thi sĩ. Nhớ và tiếc triền miên – đó là điệu thơ của người không bao giờ chịu già nua trong c