Tin mới Xem thêm

  • Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

    Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí. Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên

  • Trang Thế Hy người đi chỗ khác chơi

    Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố

  • Doãn Minh Trịnh giấc mơ đêm trở gió

    Người đàn bà bỏ phố/ lên non/ chiều đông/ mơ giấc mơ tự do/ Ngày mới lạ/ bông cúc đọng sương đêm

  • Bùi Việt Thắng & đường đi của truyện ngắn

    Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2015-2017) báo Văn Nghệ thuộc về nhà văn Nguyễn Trường (Giám đốc - Tổng biên tập nhà xuất bản Thanh niên). Thông thường

  • Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

    Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị

  • Truyện ngắn Hoàng Hiền: Mẹ con

    U nghỉ đi, con về thu xếp. Dứt lời, Hiên đi ra sân nổ máy lao vút ra cổng, mấy con chó con chạy theo sủa ăng ẳng

Chân dung Xem thêm

Thế giới sách Xem thêm

Tư Liệu Văn Học

Tướng Nam Long - Chiến binh rừng thiêng

22.12.2013-23:30

 

 Trung tướng Nam Long

 

 

Trung tướng Nam Long:

Chiến binh rừng thiêng hai lần Nam tiến

 

PHAN HOÀNG

 

NVTPHCM- Cùng với Lê Quảng Ba, Vũ Lập, Đàm Quang Trung, Đàm Văn Nguỵ, Bằng Giang,… Vũ Nam Long - thường được gọi tắt Nam Long là một trong những chiến tướng tiêu biểu người dân tộc Tày ở Cao Bằng đã lập nhiều chiến công oanh liệt. Sau khi được cử sang Trung Quốc học trường quân sự Hoàng Phố, ông đã trở về tham gia Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, chỉ huy đội cận vệ đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Tân Trào về Hà Nội làm Lễ Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Tiếp đó, Nam Long đưa Chi đội Vệ quốc đoàn Nam tiến đầu tiên tới Sài Gòn - Nam Bộ trong buổi đầu chống Pháp tái xâm lược, rồi quay ra Bắc tham gia Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn viện binh giúp nước bạn Trung Quốc. Về nước Nam Long tiếp tục chỉ huy từ cấp trung đoàn đến sư đoàn trong nhiều chiến dịch mà đỉnh điểm là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bước sang đánh Mỹ, ông đang là Tư lệnh Sư đoàn 304 được giao nhiều trọng trách cao hơn: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Tư lệnh Quân khu 4, Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên, rồi đặc phái viên Bộ Quốc phòng lên đường Nam tiến lần thứ hai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Không chỉ là tướng chiến trường, Nam Long còn có công đối với nền giáo dục quốc phòng khi hàng chục năm liền đảm trách Phó Giám đốc Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân) và Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Trung tướng Nam Long đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân huy chương cao quí khác.

 

Người con hiếu thảo của núi rừng biên giới

 

Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình ảnh hào hùng đoàn quân Nam tiến của Nam Long đã ngự trị trong tâm khảm tôi, một cậu bé miền Trung vốn sinh ra và lớn lên trong lửa đạn chiến tranh. Những Chi đội Vệ quốc đoàn gắn liền với tên các vị chỉ huy như Nam Long, Thu Sơn, Vi Dân,… rồi sau đó là bộ đội của Hà Vi Tùng, Lư Giang đã vang lừng ở Phú Yên quê tôi và cả Nam Trung Bộ từ thời Việt Minh đánh Pháp. Những đêm bên ngọn đèn dầu leo lét hay dưới ánh trăng thanh, cha tôi cùng các lão nông thường hay kể lại những câu chuyện giản dị và bí ẩn về những chiến binh quả cảm năm xưa. Hình ảnh đầy quyến rũ của họ đã đi vào giấc mơ tuổi thơ tôi, để rồi khi trở thành phóng viên chuyên đi phỏng vấn các tướng lĩnh thì Nam Long là một trong những tên tuổi hiện lên trong tôi đầu tiên.

Tiếc thay khi tôi tìm gặp được người mình mến mộ thì vị lão tướng thế hệ khai quốc tuổi cao đã lâm trọng bệnh. Lần nào tôi được Thiếu tướng Phan Khắc Hy đưa đến thăm, Trung tướng Nam Long cũng đều cầm tay khóc, khó khăn lắm mới thốt nên từng lời. Ở trong tâm trí lão tướng vẫn lưu giữ kỹ từng sự kiện, con người, vùng đất mà ông đã gắn bó vào sinh ra tử, nhưng bệnh tình không cho phép ông thể hiện được nhiều. Được sự hỗ trợ tận tình của gia đình, đồng đội tướng Nam Long và bằng sự tìm tòi nhiều nguồn tư liệu khác nhau, tôi đã cố gắng tái tạo một phần cuộc đời và sự nghiệp phong phú và hào hùng của một chiến tướng dạn dày chiến trận và có nhiều dấu ấn đặc biệt…

Nhìn lại lịch sử dựng và giữ nước từ ngàn xưa, các dân tộc thiểu số anh em luôn có những đóng góp to lớn, với những người con ưu tú sinh trưởng từ miền núi rừng. Trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vừa qua, họ đã có mặt trên khắp các mặt trận, nhiều người đã trở thành anh hùng, tướng lĩnh, nhà lãnh đạo cao cấp với những tên tuổi như: Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Chu Văn Tấn, Lê Quảng Ba, Xích Thắng, Đàm Quang Trung, Đàm Văn Nguỵ, Vũ Lập, Nam Long, Thu Sơn, Bằng Giang, Y Ngông Niek Đam, Nông Quốc Chấn, Đinh Nup, Nơ Trang Long, Kim Đồng, Hà Vi Tùng, Yblốc Êban, Chu Phương Đới, Lâm Kính,... và nhiều gương mặt tiêu biểu khác. Họ thực sự là niềm tự hào không chỉ cho buôn làng, dân tộc mình mà còn cho cả Tổ quốc Việt Nam. Đặc biệt, trong số thành viên sáng lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, các đội viên người dân tộc thiểu số lại chiếm đa số, khởi đầu cho đội quân hùng mạnh đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Và trải qua những cuộc trường chinh, nhiều người trong số ấy đã trở thành chiến tướng lập nhiều công trận đáng lưu danh sử sách, mà Nam Long là một nhân vật điển hình.

Trung tướng Vũ Nam Long tên thật Đoàn Văn Ưu sinh ngày 08 tháng 10 năm 1921 tại xã Đề Thám, huyện Hoà An, nay là phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Vùng đất này nằm bên bờ phía nam con sông Bằng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, dân cư ngày càng đông đúc. Đây hiện cũng là nơi Quốc lộ 3 chạy qua nối với Quốc lộ 4, có nhiều cơ sở giáo dục quan trọng như Trường cao đẳng Sư phạm và Trường trung học phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng, đồng thời còn là địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế của tỉnh biên giới này. Tuy nhiên, xưa kia xã Đề Thám là vùng núi rừng hẻo lánh, dân cư thưa thớt, đời sống vô cùng khó khăn, chủ yếu tỉa trồng nương rẫy, săn bắn, hái lượm. Sinh ra ở vùng đất gian khó, lại bị mồ côi cha từ thuở nhỏ, Đoàn Văn Ưu sớm có tinh thần tự lập, siêng năng học tập và làm lụng. Hàng ngày, một buổi theo học cụ đồ Nho, một buổi cậu bé họ Đoàn vào rừng hái củi về cho mẹ bán mua gạo mua muối. Nhờ vậy hai mẹ con sống đắp đổi qua ngày và có điều kiện ăn học.

Hiền lành, thông minh, chăm chỉ học tập và rất hiếu nghĩa nên Đoàn Văn Ưu được bà con buôn làng rất yêu quý. Những bài học lịch sử từ thầy đồ và thực tế đời sống nghèo khổ dưới ác cai trị của thực dân, phong kiến đã dần nhen nhóm trong lòng anh tình yêu nước thương thòi, đánh đuổi giặc Pháp. Năm 16 tuổi, được sự dìu dắt của người anh họ Hoàng Đình Giong, tức Vũ Đức - một nhà cách mạng tiền bối, chàng thiếu niên họ Đoàn đã giác ngộ làm liên lạc cho cách mạng. Tháng 2 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba nước ngoài trở về Tổ quốc, đặt bước chân đầu tiên tới Cao Bằng, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, quyết định đưa một số thanh niên ra nước ngoài học quân sự để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền từ tay thực dân Pháp và phong kiến nhà Nguyễn. Người thanh niên yêu nước Đoàn Văn Ưu là một trong những hạt giống cách mạng đầu tiên được lãnh tụ tuyển chọn sang Trung Quốc học quân sự ở trường Hoàng Phố. Đây là vinh dự, cơ hội cho chàng trai đầy ý chí của núi rừng biên giới có dịp trau dồi kiến thức, mở mang tầm nhìn và thực hiện hoài bão cứu nước.

Tuy nhiên, bấy giờ Đoàn Văn Ưu là chỗ dựa duy nhất của người mẹ nghèo goá bụa, nếu anh đi học xa, một mình mẹ già ở nhà làm sao tự nuôi sống? Dù biết có cách mạng và bà con làng bản giúp đỡ, nhưng nhiều đêm Đoàn Văn Ưu trằn trọc không ngủ được. Càng nghĩ anh càng lo càng thương mẹ. Biết được suy nghĩ ấy của con, người mẹ nghèo đã an ủi động viên con an tâm lên đường học tập, vì cái chữ và tương lai rộng mở phía trước.

Để mẹ bớt khó khăn vất vả khi vắng mình, trước khi lên đường sang Quảng Châu học tập, chàng trai họ Đoàn đã tranh thủ trong ba tháng liền lên rừng hái củi về dự trữ để mẹ ở nhà có củi bán đong gạo sống qua ngày. Đạo hiếu nghĩa đẹp như cổ tích ấy của vị tướng tương lai vẫn còn mãi được truyền tụng ở miền biên giới phía Bắc…

 

Từ trường quân sự Hoàng Phố đến Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

 

Vào giai đoạn cuối thập niên 1910 đầu 1920, lãnh tụ Tôn Trung Sơn và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc muốn phát triển sức mạnh quân sự để thống nhất đất nước, nên yêu cầu phương Tây viện trợ nhưng bị từ chối. Năm 1924, Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Quốc dân Đảng đã đề ra chính sách hợp tác của Trung Hoa Dân quốc với Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ đó, nhờ sự cung cấp tài chính và nhân lực của Liên Xô, Tổng thống Tôn Trung Sơn đã xây dựng trường quân sự Hoàng Phố, với tên chính thức là Học viện Sĩ quan Lục quân Trung Hoa Dân quốc, đặt tại thành phố Quảng Châu. Đây là cơ sở đào tạo sĩ quan lục quân, chủ yếu đào tạo kỹ năng chiến đấu bộ binh, ngoài ra còn đào tạo thêm về pháo binh, quân giới, thông tin liên lạc, hậu cần và về sau thêm khoa chính trị. Tưởng Giới Thạch là hiệu trưởng đầu tiên của trường, còn Chu Ân Lai của Đảng Cộng sản và Hồ Hán Dân, Uông Tinh Vệ của Quốc dân Đảng cùng phụ trách khoa chính trị. Những người Việt Nam như Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần cũng từng tham gia giảng dạy ở trường này cùng với nhiều chuyên gia của Trung Quốc và Liên Xô.

Cái nôi đào tạo quân sự Hoàng Phố đã sản sinh cho Trung Quốc nhiều danh tướng của Đảng Cộng sản lẫn Quốc dân Đảng như Lâm Bưu, Từ Hướng Tiền, Trần Canh, Tả Quyền, Trần Thành, Hồ Tống Nam,… Từ khoá 4, nhà trường bắt đầu nhận đào tạo cả học viên người các nước châu Á khác mà phần lớn là từ Việt Nam, nhờ đó một số tướng lĩnh về sau của ta cũng sớm theo học ở trường này như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Phùng Thế Tài, Vương Thừa Vũ,… và cả lãnh tụ Lê Hồng Phong - Tổng bí thư thứ hai của Đảng. Đến năm 1941, sau khi lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc đã cử những thanh niên Việt Nam sang học tập tại trường quân sự Hoàng Phố, ngoài Đoàn Văn Ưu còn có những hạt giống đỏ khác mà về sau nhiều người cũng trở thành chiến tướng như Hoàng Văn Thái, Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Vũ Lập và nhà tình báo huyền thoại Tạ Đình Đề…

Vốn thông minh lại cần cù, chịu khó nên Đoàn Văn Ưu tỏ ra là một học viên xuất sắc, thể hiện được năng khiếu quân sự bẩm sinh. Ông đặc biệt say mê bộ môn pháo binh và chiến thuật phân tán - tập trung, lấy nhu thắng cương, lấy ít địch nhiều. Sau hơn ba năm miệt mài học tập, tháng 11 năm 1944, Đoàn Văn Ưu cùng các học viên Việt Nam nhận lệnh rời trường Hoàng Phố về nước, gia nhập lực lượng vũ trang căn cứ địa Cao Bắc Lạng. Từ đây, để tránh sự tra xét của địch và giữ bí mật cho gia đình, Đoàn Văn Ưu chính thức đổi tên thành Vũ Nam Long, thường được gọi tắt Nam Long.

Đứng trước tình thế thực dân Pháp khủng bố gắt gao phong trào cách mạng, nếu chỉ tuyên truyền thì khó thành công, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho vị cán bộ trẻ xuất thân thầy giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp thành lập một lực lượng vũ trang cách mạng, nòng cốt là các chiến sĩ vũ trang du kích ở cơ sở Cao Bắc Lạng. Tháng 9 năm 1944, 3 đội vũ trang tập trung của Tam Kim, Hoa Thám, Chí Kiên đã tham gia dự lớp huấn luyện 20 ngày tại rừng Khuổi Cọ của Cao Bằng, do hai ông Võ Nguyên Giáp và Hoàng Sâm giảng dạy. Vũ Nam Long được cử tham dự khoá học. Đến ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy làm lễ thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, biên chế thành 3 tiểu đội. Các ông Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng, Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên và Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến,... với số vũ khí ban đầu gồm có 2 súng thập (súng ngắn 10 viên), 17 súng trường, 14 súng kíp. Chỉ một thời gian ngắn sau Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã nhanh chóng phát triển thành những trung đội vũ trang tham gia Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Vũ Nam Long là một trong những cán bộ được cử tham gia chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, nhưng vì bận công tác đột xuất nên Nam Long và Đàm Quang Trung không tham dự buổi lễ ra mắt chính thức. Đó cũng là lý do hai ông không có tên trong danh sách 34 đội viên đầu tiên. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên là trong bức ảnh nổi tiếng thể hiện hình ảnh buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân lại có mặt cả hai cán bộ người dân tộc Tày vốn học trường quân sự Hoàng Phố. Vì sao? Lý giải thắc mắc ấy của chúng tôi, Trung tướng Nam Long cho biết: “Lúc đó, tôi và anh Đàm Quang Trung được phân công làm trung đội trưởng của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, nhưng vì bận công tác nên ngày làm lễ thành lập cả hai đã vắng mặt. Cho đến mười năm sau, nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, anh em trong Đội nhận chỉ thị về lại khu rừng Trần Hưng Đạo ở Cao Bằng quê tôi để quay phim, chụp ảnh lưu niệm. Lúc ấy, tôi mới có mặt. Tôi nhớ anh Văn bảo tôi quàng qua vai cái ruột nghé gạo. Tất cả anh em trong Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đều đi chân đất. Quang cảnh trông giống như thật. Được trở về khu rừng thân quen với sự kiện lịch sử trọng đại, từ anh Văn đến anh em chúng tôi ai cũng hết sức xúc động”.

Đây cũng là một dấu ấn đặc biệt trong đời Trung tướng Nam Long, khi ông là một trong những thành viên đầu tiên của một quân đội non trẻ nhưng mang lấy trọng trách hết sức to lớn: chiến đấu giải phóng dân tộc khỏi đêm trường nô lệ kéo dài hàng thế kỷ. Trải qua hai cuộc trường chinh gian khổ và oanh liệt, cho đến khoảng hơn một thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, tướng Nam Long là một trong số rất ít thành viên của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân may mắn còn sống sót. Bên cạnh Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, thì chỉ còn lại Đại tướng Hoàng Văn Thái, Thượng tướng Đàm Quang Trung, Thượng tướng Vũ Lập, Trung tướng Nam Long, Trung tướng Đàm Văn Nguỵ,… và một đội viên sớm xuất ngũ là Tô Văn Cắm, bí danh Tiến Lực, đã rời Cao Bằng vào sống ở Lâm Đồng.

Trung tướng Nam Long và Thượng tướng Trần Văn Trà khi ở Liên Xô

 

Chỉ huy đội vệ binh đưa Ông Ké an toàn từ Tân Trào về Hà Nội làm Lễ Tuyên ngôn Độc lập

 

Một chiến binh đồng đội và đồng hương thân thiết của Vũ Nam Long là Đàm Quang Trung, vốn học cùng khoá trường quân sự Hoàng Phố của Trung Quốc. Ở chiến khu Tân Trào, Đàm Quang Trung chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngày 29 tháng 7 năm 1945, một toán quân Đồng Minh là OSS trong đội Con Nai của Mỹ, do Thiếu tá Thomas Allison chỉ huy đã nhảy dù xuống Kim Lung, ông Đàm Quang Trung được điều sang làm Đại đội trưởng Đại đội hỗn hợp Việt - Mỹ, còn Thiếu tá Thomas Allison làm Tham mưu trưởng, nhận nhiệm vụ tuyển chọn những chiến sĩ Việt Minh để huấn luyện cách sử dụng vũ khí Mỹ chiến đấu chống phát xít Nhật. Nam Long được Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp chỉ định thay thế Đàm Quang Trung làm Đại đội trưởng chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bấy giờ được gọi là Ông Ké - bí danh và tên gọi thân mật của người dân tộc thiểu số dành cho lãnh tụ. Tướng Nam Long cho biết: “Thời điểm chuẩn bị diễn ra Hội nghị Quốc dân Tân Trào, Bác Hồ gầy yếu xanh xao, có lúc bệnh tình rất nặng. Một lần Bác mệt, phải nhờ anh Văn đưa y tá Nguyễn Việt Cường đến tiêm thuốc mới qua cơn nguy kịch. Đây cũng là lúc Bác dặn dò anh Văn bằng câu nói bất hủ: “Dù có đốt hết dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được tự do độc lập”. Tôi được Bác và anh Văn tin tưởng giao chỉ huy đội vệ binh, vừa vinh dự mà cũng vừa thấy trách nhiệm rất lớn. Những tháng ngày ở gần Bác, tôi học được nhiều lắm, từ lối sống giản dị, gần gũi với mọi người đến tác phong làm việc nhanh nhẹn, quyết đoán”.

Dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Nam Long, đội vệ binh đã bảo vệ an toàn vị lãnh tụ tối cao từ Hội nghị Quốc dân Tân Trào về đến thủ đô Hà Nội để ra mắt quốc dân đồng bào, làm Lễ Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhớ về thời điểm lịch sử này, tướng Nam Long nói: “Bảo vệ Bác Hồ vừa là công việc nhiều thử thách, đòi hỏi sự cảnh giác cao, nhất là giữa lúc tình hình tổng khởi nghĩa thay đổi từng ngày. Cách mạng đang trên đà thắng lợi, nhưng không phải không có những âm mưu đen tối của địch đối với cơ quan đầu não của ta, đặc biệt là đối với Bác Hồ, vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Những ngày về Hà Nội, Bác làm việc tạm thời ở 48 phố Hàng Ngang, công tác bảo vệ Bác càng khó khăn hơn, khi phải đối mặt với nhiều phe phái thù nghịch khác nhau do nước ngoài yểm trợ. Chúng tôi rất tự hào khi hoàn thành trọng trách bảo vệ Bác cùng Chính phủ trong Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 02 tháng 9 năm 1945. Đó là một ngày lịch sử quan trọng của cả dân tộc sau đêm trường nô lệ, mà tôi may mắn được chứng kiến và còn góp phần làm cho buổi lễ diễn ra tốt đẹp, trọn vẹn”.

Nước Việt Nam mới ra đời chưa được bao lâu, quân Pháp nổ súng tái xâm lược Nam Bộ. Đang chỉ huy bảo vệ vị lãnh tụ tối cao, nghe tin giặc đến Nam Long nóng lòng ra trận. Ông quyết tâm xin bằng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp cho mình cầm quân trực tiếp vào Nam chiến đấu. Và ông đã toại nguyện.

Vì vận nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xa người cận vệ tin yêu, đã gọi Nam Long đến dặn dò: “Quân địch nó mạnh, có tàu bay tàu bò, nhiều năm là lính thiện chiến, nhưng nó chiếm đến đâu nó phải giữ, phải hành quân. Nếu nó trú, ta dùng ít quân để bắn nó không cho nó ngủ yên được. Đó là một cách đánh. Cách thứ hai là bắn vào đội hình của nó. Bắn chơi, bắn du kích. Còn cách thứ ba là nó nhiều ta ít, nên phải đánh đằng đuôi, đánh xong cướp súng rồi rút ngay”. Tướng Nam Long xúc động nhớ lại. Ông cho biết thêm: “Hồi ở Trung Quốc tôi có học cách đánh “Hoá chỉnh vi linh, hoá linh vi chỉnh”, cho nên đánh theo cách của Bác dặn có thể hiểu: phân tán rồi tập trung, tập trung rồi phân tán. Đó là bài học quí mà tôi áp dụng trong nhiều trận đánh về sau. Bác Hồ không chỉ là nhà chiến lược, nhà nhân văn tầm cỡ quốc tế, mà về chiến thuật Bác cũng rất giỏi”!

 

Câu chuyện về chiếc xe đạp ở ga Vinh và hai cuộc điện thoại gọi ra Hà Nội

 

Sau lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào tự nguyện Nam tiến hừng hực khí thế khắp thủ đô Hà Nội và Bắc Bộ. Vở kịch Hội nghị Diên Hồng được công diễn làm sống lại tinh thần Đông A thời Trần, cả nước một lòng sẵn sàng quyết tử đánh đuổi quân xâm lăng. Có những Việt kiều từ hải ngoại gửi thư về Chính phủ xin cho con em mình được về nước vào Nam Bộ đánh giặc. Hai buổi sớm chiều mỗi ngày, tiếng chuông chùa gióng lên vang động để cầu an cho những liệt sĩ vừa hy sinh ở Nam Bộ. Đài tưởng niệm được dựng lên. Uỷ ban Ủng hộ chiến sĩ Nam Bộ được thành lập. Các chi đội, tiểu đoàn từ khắp nơi rầm rập tiến về Hà Nội để lên tàu hành quân vào miền Nam thân yêu…

Vì có nhiệm vụ khẩn cấp ở biên giới Việt - Lào, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp cử Vũ Nam Long mang mật lệnh vào Khu 4. Tại thị xã Vinh, Nam Long được ông Lê Viết Lượng - Chủ tịch tỉnh Nghệ An đón tiếp và chăm sóc chu đáo. Bỗng một hôm đang ở trong doanh trại huấn luyện, Nam Long nghe có người báo rằng bộ đội Nam tiến vào ga Vinh đông lắm. Ông kể: “Tôi vội chạy bộ ra ga Vinh, vui mừng gặp lại một số chỉ huy quen biết từ lúc còn ở chiến khu Việt Bắc. Anh Thơ người Võ Nhai nay là Chi đội trưởng, rồi Đại đội trưởng Hồng An, Đại đội trưởng Thắng Lợi. Cậu chỉ huy nào cũng súng ngắn kề hông, đầu calô đội lệch có đính ngôi sao vàng, chân đi giày đinh có ghệt trắng. Còn chiến sĩ anh nào cũng trẻ măng, dáng dấp thư sinh, nói cười mắc cỡ ngượng ngùng. Các cô gái Vinh xinh xắn trong bộ áo dài tha thướt mang hoa ra tặng bộ đội. Có những cô còn nài nỉ xin theo đoàn quân Nam tiến. Không khí hành quân đánh giặc rộn ràng, tự tin, phấn khởi”. Trung tướng Nam Long còn cho biết: “Biết tôi muốn vào Nam, anh Thơ nói: “Tao vừa làm Chi đội trưởng vừa làm Chính trị viên, nên việc nhiều làm không hết. Hay là mày xin anh Lê Viết Lượng vào miền Nam với tao”. Tôi hỏi khi nào tàu chạy, anh Thơ cho biết là vào sáng hôm sau. Tôi nhìn thấy trước ngôi nhà ở cửa ga có một chiếc xe đạp. Tôi bèn đến gặp anh thanh niên đứng cạnh xe hỏi mượn. Anh biết tôi là Nam Long, cho mượn ngay. Lúc ấy chiếc xe đạp rất hiếm, có giá trị lắm. Đạp xe về gặp anh Lê Viết Lượng, nghe tôi trình bày, anh không đồng ý. Vì lúc ấy ở vùng biên giới miền tây Nghệ An cũng có địch, cần đến tôi. Hơn nữa tôi là người của Bộ Tổng tư lệnh cử vào, anh không có quyền cho tôi đi. Tôi mới nói: “Nếu ngoài Bộ đồng ý, anh cho Nam Long đi nhé! Anh ủng hộ tôi nhé!”. Anh Lê Viết Lượng cười, tôi chào anh rồi đạp xe chạy trở ra ga Vinh”.

Nam Long vội vàng đưa xe vào một ngôi nhà để trả lại cho anh thanh niên. Một người đàn ông chủ nhà bước ra từ tốn nói rằng ông không phải là chủ chiếc xe đạp này. Biết mình nhầm, Nam Long năn nỉ: “Bác à, tôi vội lên tàu Nam tiến, không biết tìm ai để trả xe. Nhờ bác nhắn hộ ai cho Nam Long mượn xe thì đến nhà bác nhận giúp. Nghe tôi xưng tên, bác chủ nhà đồng ý ngay và bác cũng cho tôi biết tên của mình”.

Chạy vào nhà ga Vinh, Nam Long gọi điện ngay ra Hà Nội. Câu chuyện điện thoại này cũng khá thú vị. Theo lời kể của ông:

“Từ nhà ga Vinh, tôi gọi điện ra Tổng đài Bờ Hồ nhờ họ nối dây với anh Văn. Một giọng nữ ngọt ngào vang lên:

- Thưa ông, ông Văn số điện thoại bao nhiêu?

- Không biết mà, cứ hỏi đồng chí Văn thì ai cũng biết!

- Trời, số điện thoại không biết làm sao gọi được, thưa ông?

Tôi cứ nghĩ nói tới anh Văn thì ai cũng biết. Vì ở Việt Bắc, từ già tới trẻ người Tày, người Nùng, người Dao, người Mèo,… ai ai cũng biết anh Văn mà. Cô trực ban ở Tổng đài Bờ Hồ cúp máy. Tôi ngồi chờ mãi trước máy điện thoại. Mắt nhắm ngủ quên lúc nào không biết. Khi tôi tỉnh giấc thì đã gần 3 giờ sáng. Chỉ còn hai giờ nữa con tàu Nam tiến sẽ rời ga. Tôi vội nhấc máy gọi nữa. Đầu dây bên kia lần này là tiếng đàn ông:

- Xin lỗi, ông cần gặp ai ạ?

- Tôi là Nam Long, đang cần gặp anh Văn gấp.

- Anh Văn? Phải anh Văn Cao không?

- Trời, không phải. Anh Văn là anh Võ Nguyên Giáp đấy mà!

- Vậy hả, xin anh chờ giây lát.

Tay tôi nắm chặt ống nghe áp sát tai trong tiếng máy lạo xạo. Lúc sau vang lên giọng nói ấm áp thân quen:

- Tôi, Văn đây! Ai đó?

- Anh Văn à! Nam Long đây. Nam Long đang ở ga Vinh. Có đoàn quân Nam tiến do anh Thơ chỉ huy đang ở ga Vinh, hai giờ nữa tàu chạy. Thơ bảo tôi Chi đội thiếu một Chính trị viên, vì mình nó không làm hết việc. Anh Văn cho Nam Long đi với Thơ nhé!

- Ngừng một lát, anh Văn mới nói:

- Cái này phải hỏi Ông Cụ.

- Ấy dà! Tàu sắp chạy rồi anh Văn à. Anh cử tôi vào Nghệ An thì bây giờ do anh quyết định chứ!

Trước cái “lý” của tôi, tôi nghe anh cười và hỏi:

- Các anh trong Vinh ý kiến thế nào? Nếu các anh trong ấy đồng ý, có người thay thế thì ngoài này cũng đồng ý.

- Anh Lê Viết Lượng bảo Nam Long, nếu các anh ở Bộ đồng ý thì trong này cho đi thôi.

- Vậy hả, để mình báo cáo với Ông Cụ. Chúc Nam Long lên đường thắng lợi!”.

 

Hào khí đoàn quân Nam tiến đầu tiên vào chiến đấu ở Sài Gòn - Nam Bộ

 

Hoàng Đình Giong

Nam Long

Đàm Quang Trung

Những người con của rừng thiêng biên giới

Mang khí phách hào hùng

Mưu lược hành quân

Tiến

Tiến về phương Nam

Lời thơ ca ngợi những người con tài năng của dân tộc Tày ở Cao Bằng đã chỉ huy những đoàn quân Nam tiến. Trên đường hành quân vào tới Nha Trang, Vũ Nam Long đã bất ngờ gặp người đàn anh Hoàng Đình Giong (bí danh Vũ Đức) và Đàm Minh Viễn, hai vị chỉ huy được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cử vào Nam. Hai ông đi bằng ô tô, tới Nha Trang thì lên tàu hoả đi cùng Nam Long. Lúc ấy, ông Hoàng Đình Giong có thảo một bức thư ngắn bằng chữ Hán gửi cho viên Tư lệnh quân Nhật ở Khánh Hoà để thông báo về đoàn quân Việt Nam đi ngang Nha Trang…

Theo kế hoạch, Nam Long cùng Chi đội Giải phóng quân của mình vào mặt trận phía bắc Sài Gòn, còn Hoàng Đình Giong và Đàm Minh Viễn thì đưa viện binh xuống Đồng bằng song Cửu Long. Hoàng Đình Giong đã trở thành Tư lệnh đầu tiên của Quân khu 9.

Đối với Chính trị viên Nam Long, khi tàu vào tới Phan Thiết, ông đã cùng ông Thơ - Chi đội trưởng đã mượn một chiếc ô tô đi trước để nắm tình hình. Người đàn ông chủ xe đã tình nguyện lái đưa hai vị chỉ huy vào Sài Gòn. Ngoài chiếc ô tô này, còn có ba chiếc xe tải chở cán bộ Chi đội tháp tùng theo. Trên đường, họ gặp nhiều barie của dân quân, du kích địa phương chặn đường kiểm soát. Khi đi qua Đồng Nai, xe dừng trước một chốt chặn, du kích đưa tờ giấy có con dấu đỏ ra đòi tịch thu xe. Chính trị viên Nam Long dõng dạc nói: “Xe chúng tôi theo lệnh Cụ Hồ vào Nam đánh Pháp. Ai đòi trưng thu xe người đó phản động”. Nghe lời mạnh mẽ của Nam Long, với giọng nói tiếng Kinh lơ lớ, lại thấy người ông cao to, có một tổ bảo vệ trang bị toàn súng tiểu liên Thompson, nên các anh du kích có vẻ “ớn” đã mở barie cho đoàn xe qua…

Đoàn tiền trạm tới Thủ Đức, Chính trị viên Nam Long cùng Chi đội trưởng Thơ đã gặp các nhà lãnh đạo của Nam Bộ bấy giờ là Trần Văn Giàu, Hà Huy Giáp, Phạm Văn Bạch, Dương Bạch Mai, Bùi Công Trừng, Đào Duy Kỳ,… Trung tướng Nam Long nhớ lại: “Anh nào cũng áo quần tươm tất, chân mang giày, trông rất sang trọng và nhã nhặn. Các anh bắt tay ôm hôn chúng tôi thân thiết như anh em trong gia đình lâu lắm mới gặp nhau. Nghe tôi nói chuyện về Bác Hồ, về anh Văn, anh nào cũng chăm chú lắng nghe, đôi lúc còn trao đổi nhau bằng tiếng Pháp. Tôi nghĩ bụng: các anh là những trí thức, nhà khá giả mà còn đi kháng chiến thì nhất định kháng chiến sẽ thành công. Người dân vùng ngoại ô Sài Gòn thấy đoàn quân Nam tiến rất mừng rỡ. Họ sai con cháu hái dừa và các loại trái cây mang đến tặng cho bộ đội. Một bà má đưa tôi quả dừa đã bảo: “Uống đi con, lấy sức mà đánh giặc”. Tình quân dân cảm động lắm”!

Chi đội do Nam Long làm Chính trị viên là chi đội đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ, có mặt ở chân cầu Bình Lợi đầu tháng 10 năm 1945, trấn giữ mặt trận phía bắc Sài Gòn không cho giặc Pháp lấn sang. Nam Long cũng đi vào lịch sử với tư cách người chỉ huy chi đội đầu tiên Nam tiến lần thứ nhất khi Tổ quốc lâm nguy. Tên ông cũng gắn liền với tên chi đội - Chi đội Nam Long, nổi tiếng ở mặt trận phía Nam, mà về sau tướng Trần Văn Trà đã dành những lời trân trọng trong hồi ký của mình…

Khi Nam Long đề nghị cho ban chỉ huy Chi đội đi trinh sát, các nhà lãnh đạo Nam Bộ góp ý nên cải trang làm dân thợ để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp. Ông cho hay: “Tôi mượn một bộ bà ba đen, vai có nhiều miếng vá để mặc. Anh Hà Huy Giáp nhìn tôi cười: “Culi gì mà trắng quá. Phải bôi đất đi cho nó lam lũ một chút”. Còn anh Trần Văn Giàu đưa cho tôi mấy khúc mía, vừa đi vừa ăn, đóng vai người làm thuê đốn mía. Các anh đưa cho anh Thơ một nải chuối, mấy nén hương để giả làm người đi ăn giỗ. Anh Trương Định Công người Bình Định đã hoạt động lâu năm ở đây được phân công làm người dẫn đường”.

Những ngày đóng quân ở đầu cầu phía bắc cầu Bình Lợi, Nam Long thường bôi bùn vào áo quần chân tay giả làm dân bắt cá sang bên kia cầu nắm tình hình địch. Ông tham gia chỉ huy một số trận đánh ở đây cho tới khi Mặt trận Sài Gòn vỡ do cuộc chiến không cân sức. Rút quân lui về Tam Hiệp thuộc tỉnh Biên Hoà trụ lại chống cự với quân Pháp, ông cho người bí mật vào Bệnh viện Thủ Đức mang thương binh ra. Sau đó, Chi đội của Nam Long tiếp tục rút ra Phan Rang, Nha Trang, Ninh Hoà rồi lên Tây Nguyên…

THEO BÁO PHÁP LUẬT & CUỘC SỐNG

 

(Trích từ Trung tướng Nam Long: Chiến binh rừng thiêng hai lần Nam tiến

trong bộ sách Chiến tướng ký sự của Phan Hoàng sẽ xuất bản 2014)

 

 

>> XEM TƯ LIỆU THAM KHẢO KHÁC...

 

Vui lòng Đăng nhập để gửi lời cảm nhận của bạn cho bài viết trên.